Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tổng kết thi hành Điều lệ Đảng khóa XI và đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng khóa XI (nếu có)

Nhiệm kỳ Đại hội XI, với sự tham mưu của các ban đảng ở Trung ương, công tác tổ chức học tập, quán triệt Điều lệ Đảng đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm chỉ đạo và có kế hoạch cụ thể để triển khai tới các đảng bộ trực thuộc.

BÁO CÁO

CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XI VỀ TỔNG KẾT THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG KHÓA XI 

VÀ ĐỀ XUẤT BỔ SUNG, SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ ĐẢNG KHÓA XI (NẾU CÓ)

(Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng)

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG KHÓA XI

I- TỔ CHỨC HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU, QUÁN TRIỆT ĐIỀU LỆ ĐẢNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH, HƯỚNG DẪN CỦA TRUNG ƯƠNG

1. Ưu điểm

Nhiệm kỳ Đại hội XI, với sự tham mưu của các ban đảng ở Trung ương, công tác tổ chức học tập, quán triệt Điều lệ Đảng đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm chỉ đạo và có kế hoạch cụ thể để triển khai tới các đảng bộ trực thuộc.

Căn cứ kế hoạch và hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp uỷ đã xây dựng kế hoạch mở hội nghị học tập, quán triệt triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi) cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ, giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, cấp uỷ viên từ chi bộ trở lên. Các cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương chủ động biên soạn và cung cấp tài liệu, xây dựng đề cương, cử cán bộ có kinh nghiệm, hiểu biết công tác xây dựng Đảng, nắm vững Điều lệ Đảng giúp các cấp uỷ trong việc tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng báo cáo tại các hội nghị cán bộ chủ chốt. Việc học tập, quán triệt Điều lệ Đảng được tổ chức theo đúng kế hoạch của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra; tỉ lệ cấp uỷ viên và đảng viên tham gia học tập ở các đảng bộ đều đạt trên 90%, cao hơn nhiệm kỳ trước (nhiệm kỳ trước là 88,6%)…, nhiều tổ chức cơ sở đảng đạt tỉ lệ 100%. Tỉ lệ đảng viên được cung cấp Điều lệ Đảng và Quy định, Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để tự học tập, nghiên cứu cao hơn nhiệm kỳ trước ở nhiều tổ chức đảng.

Kết quả kiểm tra của Tiểu ban Điều lệ Đảng và tự kiểm tra từ cấp cơ sở trở lên ở 68 đảng bộ trực thuộc Trung ương cho thấy, những nội dung của Điều lệ Đảng, Quy định, Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng, nhất là những điểm mới trong các văn bản này cơ bản đã được các cơ quan, tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ, công chức làm chuyên trách công tác đảng nắm vững và thi hành, đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng Đảng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên có chuyển biến rõ nét.

2. Hạn chế, thiếu sót

Ở một số nơi, đội ngũ báo cáo viên chuyên sâu về Điều lệ Đảng còn hạn chế, có nơi chưa đáp ứng được yêu cầu; do báo cáo viên thiếu kiến thức, kinh nghiệm về xây dựng Đảng, chưa nắm vững những nội dung mới của Điều lệ Đảng, Quy định và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương dẫn tới lúng túng khi truyền đạt, nhất là việc giải đáp vướng mắc trong thực tiễn cho cán bộ, đảng viên.

Một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa thực hiện nghiêm túc việc tổ chức học tập, quán triệt Điều lệ Đảng và Quy định, Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng; việc quán triệt còn hình thức, chủ yếu là phổ biến theo văn bản, ít dành thời gian cho nghiên cứu, thảo luận để nắm vững những nội dung mới, quan trọng trong Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương. Việc kiểm tra nhận thức và tổ chức thi hành Điều lệ Đảng của cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên chưa thường xuyên nên có một số trường hợp vi phạm Điều lệ Đảng phải xử lý kỷ luật hoặc vận dụng chưa đúng phải điều chỉnh, uốn nắn.

II- KẾT QUẢ THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG

1. Những kết quả đạt được

1.1. Việc cụ thể hoá Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và ban hành các văn bản cụ thể hoá Điều lệ Đảng với quy trình chuẩn bị công phu, lấy ý kiến rộng rãi của tổ chức đảng, đảng viên; ban hành văn bản đúng thẩm quyền theo Quy chế làm việc được xây dựng ngay từ đầu nhiệm kỳ; nội dung của các quy định, quy chế, hướng dẫn đã cụ thể hoá và làm rõ hơn vai trò quyết định của tổ chức đảng và trách nhiệm cá nhân theo đúng Điều lệ Đảng. Vì vậy, hiệu lực và chất lượng văn bản được nâng lên, thuận lợi trong thực hiện, phục vụ tốt công tác xây dựng Đảng.

Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương đã chủ động tham mưu, nghiên cứu để cụ thể hoá những quy định của Điều lệ Đảng theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan; kịp thời đề xuất, tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành đồng bộ các quy định, quy chế, hướng dẫn bảo đảm đúng thẩm quyền, đầy đủ về nội dung, toàn diện về tất cả các lĩnh vực xây dựng Đảng, góp phần làm cho việc thi hành Điều lệ Đảng được chính xác, thống nhất.

1.2. Về đảng viên và công tác đảng viên (Chương I)

Tính đến ngày 31-12-2014, tổng số đảng viên trong toàn Đảng có 4.480.707 đồng chí. Trong đó:

- Đảng viên ở xã là l.888.352 đồng chí. Ở phường là 646.276 đồng chí. Ở thị trấn là 207.081 đồng chí (chiếm tỉ lệ 61,18%).

- Đảng viên ở các cơ quan hành chính là 422. 900 đồng chí; đơn vị sự nghiệp là 289.179 đồng chí (chiếm tỉ lệ 15,85%).

- Đảng viên trong Đảng bộ Quân đội là 343.546 đồng chí; Đảng bộ Công an là 207.352 đồng chí (chiếm tỉ lệ 12,3%).

- Đảng viên ở các tổ chức đảng ngoài nước là 9.495 đồng chí (chiếm tỉ lệ 0,21%).

- Đảng viên ở các doanh nghiệp nhà nước là 266.541 đồng chí, doanh nghiệp cổ phần vốn nhà nước là 113.568 đồng chí (chiếm tỷ lệ 8,48%).

- Đảng viên ở các loại hình doanh nghiệp còn lại và các tổ chức khác là 85.207 đồng chí (chiếm tỉ lệ l,9%).

Trong nhiệm kỳ 2011 - 2015, công tác phát triển đảng viên tiếp tục được các cấp uỷ quan tâm lãnh đạo thực hiện. Ban Tổ chức Trung ương đã xây dựng và ban hành hướng dẫn với nhiều quy định cụ thể về phương châm, nguyên tắc, quy trình, thủ tục của công tác phát triển đảng viên, kết nạp và chuyển đảng viên dự bị thành đảng viên chính thức với tinh thần cải cách hành chính, giảm nhiều thủ tục không cần thiết trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc của Điều lệ Đảng.

Từ đầu nhiệm kỳ đến cuối tháng 6-2015, toàn Đảng đã kết nạp được 945.135 đảng viên mới (tăng hơn 2% so với số đảng viên mới kết nạp trong nhiệm kỳ 2006 - 2010). Trong đó:

- Đảng viên là công nhân, lao động trong các thành phần kinh tế có 76.990 đồng chí (chậm tỉ lệ 8,14%).

- Đảng viên là người dân tộc thiểu số có 127.660 đồng chí (chiếm tỉ lệ 13,5%).

- Đảng viên là học sinh, sinh viên có 40.394 đồng chí (chiếm tỉ lệ 4,27%).

Đến ngày 31-12-2014, toàn Đảng có 118.022 đảng viên có trình độ từ thạc sĩ trở lên (tăng hơn 70% so với cùng kỳ năm 2011); có 1.749.040 đảng viên có trình độ đại học và cao đẳng (tăng hơn 27% so với cùng kỳ năm 2011).

Tuy nhiên, đến ngày 31-12-2014, toàn Đảng vẫn còn 362 đảng viên chưa biết chữ quốc ngữ; 173.202 đảng viên có trình độ tiểu học (chiếm tỉ lệ 0,03% so với tổng số đảng viên đến ngày 31-12-2014).

Tổng hợp số liệu trong các năm từ 2011 – 2014, tỉ lệ đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ trở lên bình quân đạt trên 85% (năm 2014 là 88,4%).

Điều lệ Đảng khoá XI đã bổ sung về tiêu chuẩn đảng viên, cách tính tuổi đảng của đảng viên. Qua thực tế thi hành, những điểm mới này cơ bản là phù hợp, tạo thêm động lực phấn đấu cho đảng viên, góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng. Các cấp uỷ, tổ chức đảng đã chú ý hơn trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng trên cơ sở được cụ thể hoá qua quy chế làm việc, giúp cho đảng viên kịp thời nắm bắt những vấn đề về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... Đảng viên được thảo luận, tham gia ý kiến, biểu quyết các công việc của Đảng, kể cả nhân sự cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra,... theo hướng ngày càng dân chủ và thực chất hơn.

1.3. Về nguyên tắc tổ chức và cơ cấu tổ chức (Chương II)

Việc xây dựng quy chế làm việc của các cấp uỷ, tổ chức đảng được chú ý đổi mới cả về hình thức và nội dung. Tính cụ thể hoá trong các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác; trách nhiệm của tập thể, cá nhân và người đứng đầu các cấp uỷ, tổ chức đảng bước đầu được xác định rõ. Trong quá trình hoạt động, đa số cấp uỷ, tổ chức đảng đã bám sát quy chế làm việc, thường xuyên điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy được vai trò của tập thể và trách nhiệm cá nhân, giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp uỷ với chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội; tạo sự đồng thuận của xã hội. Quy chế bầu cử trong Đảng được Ban Chấp hành Trung ương ban hành với nhiều quy định cụ thể hoá nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động bầu cử được các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành nghiêm túc. Nhiều ý kiến đề nghị cần đưa một số nội dung quan trọng của Quy chế bầu cử trong Đảng vào Điều lệ Đảng.

Thực hiện nguyên tắc tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt đảng, nhất là đợt tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng, đã có chuyển biến tích cực. Nội dung tự phê bình, phê bình ở các cấp uỷ, tổ chức đảng được thực hiện nghiêm túc, thẳng thắn, chân thành, qua đó đã phát huy được ưu điểm, khắc phục những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm của tập thể và của cán bộ, đảng viên, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng. Quy chế nêu gương của cấp uỷ viên do Ban Bí thư ban hành đã bước đầu phát huy tác dụng, đi vào cuộc sống.

1.4. Cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương và địa phương (Chương III, IV)

Trong nhiệm kỳ khoá XI, công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị được triển khai thực hiện tích cực, đồng bộ. Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành các nghị quyết, kết luận; Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều quy định hướng dẫn việc kiện toàn, sắp xếp hệ thống tổ chức đảng theo ngành và lãnh thổ theo hướng hợp lý về tổ chức, phù hợp với Điều lệ Đảng, giữ vững vai trò hạt nhân chính trị, nâng cao chất lượng hoạt động, bảo đảm vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Điều lệ Đảng khoá XI đã bổ sung nội dung về chỉ định cấp uỷ cho các tổ chức đảng ở những nơi mới được thành lập, hợp nhất, sáp nhập giữa nhiệm kỳ và quy định việc xây dựng, bổ sung phương hướng, nhiệm vụ cho các tổ chức đảng này, tạo điều kiện rất thuận lợi cho các tổ chức đảng và cấp uỷ hoạt động liên tục. Qua đó bảo đảm vai trò lãnh đạo, không phải tổ chức đại hội nhiều lần, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất về nhiệm kỳ trong hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, được các cấp uỷ và tổ chức đảng đánh giá cao.

1.5. Về tổ chức cơ sở đảng và tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân (Chương V, VI)

Tính đến ngày 31-12-2014, toàn Đảng có 75.860 tổ chức cơ sở đảng (tăng 5.732 tổ chức cơ sở đảng so với năm đầu nhiệm kỳ), trong đó:

- Tổng số tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn là 11.166; ở cơ quan hành chính là 18.714; đơn vị sự nghiệp là 8.746.

- Tổng số tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội và Công an là : 9.695.

- Tổng số tổ chức cơ sở đảng ở ngoài nước là 11.

- Tổng số tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước là 8.735.

- Tổng số tổ chức cơ sở đảng ở các loại hình doanh nghiệp còn lại và các tổ chức khác là 18.793.

Tổng số có 262.894 chi bộ trực thuộc tổ chức cơ sở đảng (xã, phường, thị trấn có 160.415; cơ quan hành chính có 26.202; đơn vị sự nghiệp có 14.654, lực lượng vũ trang có 32.710 và trong các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức khác có 27.740,...); có 2.118 đảng bộ bộ phận (trong đó số đảng bộ bộ phận trong lực lượng vũ trang là 1.100, chiếm tỷ lệ 51,9%).

Nhìn chung, hoạt động của tổ chức cơ sở đảng với các nội dung được Điều lệ Đảng quy định đã phát huy được vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ chính trị. Nhiệm kỳ này, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chú ý tới việc ban hành các quy định để cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, hướng dẫn nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, thuận lợi cho công tác xây dựng Đảng theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Việc đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng hàng năm cũng có sự đổi mới, cải tiến, đã bước đầu khắc phục được tính hình thức, bảo đảm thực chất.

Công tác thi đua, khen thưởng trong Đảng thời gian qua có nhiều đổi mới, thông qua các chính sách, hình thức khen thưởng và việc tổ chức thực hiện. Chất lượng công tác thi đua, khen thưởng được chú trọng hơn trước, khắc phục một bước tình trạng khen thưởng nặng về hình thức,… Nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về công tác thi đua, khen thưởng của Đảng ngày càng nâng cao, tuân thủ các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng.

Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thực hiện theo các quy định của Điều lệ Đảng tại Chương VI, Điều lệ Đảng cơ bản thuận lợi, phù hợp với tính đặc thù của công tác xây dựng Đảng ở các đảng bộ này. Trong nhiệm kỳ này, Điều lệ Đảng đã đổi tên Đảng uỷ Quân sự Trung ương thành Quân uỷ Trung ương được toàn quân đồng tình cao; bổ sung một số nội dung về cơ chế lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với Quân đội và Công an. Bộ Chính trị quy định nhiều nhiệm vụ và thẩm quyền cụ thể cho đảng bộ bộ phận trong Quân đội và Công an, bước đầu đã tháo gỡ những vướng mắc trong công tác đảng. Vị trí hạt nhân chính trị và vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong các lực lượng vũ trang được thể hiện rõ nét, bảo đảm cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang.

1.6. Về công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật đảng của cấp ủy và uỷ ban kiểm tra các cấp (Chương VII, Chương VIII)

Phần lớn các cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp và đảng viên đã chấp hành nghiêm túc các quy định của Điều lệ Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát có những chuyển biến tích cực, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng ở địa phương, đơn vị. Chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát được nâng lên, đã phát hiện, kiểm tra, làm rõ các dấu hiệu vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước,… Việc xem xét, thi hành kỷ luật đảng, giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Uỷ ban kiểm tra các cấp chấp hành sự lãnh đạo của cấp uỷ cùng cấp và sự chỉ đạo, hướng dẫn của uỷ ban kiểm tra cấp trên; chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ, các quy định của Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền trong kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật. Hầu hết cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp thực hiện khá toàn diện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; thực hiện tương đối tốt phương hướng, phương châm trong xem xét, thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, giải quyết khiếu nại kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên. Sự phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với các tổ chức đảng, các cơ quan liên quan trong việc thực hiện quy chế làm việc, quy chế phối hợp, chức năng, nhiệm vụ được giao. Việc tham mưu, giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cấp uỷ cùng cấp về công tác kiểm tra, giám sát, công tác xây dựng Đảng .., đã chủ động, hiện quả hơn.

Thông qua công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng đã góp phần tích cực trong việc phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong một số tổ chức đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng; phát hiện những sơ hở, những nội dung không còn phù hợp trong các văn bản của Đảng và Nhà nước để kiến nghị và bổ sung, sửa hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp.

1.7. Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội (Chương IX)

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được thực hiện chủ yếu thông qua Cương lĩnh chính trị, chiến lược, chính sách, chủ trương, bằng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát việc thực hiện,… Đảng giới thiệu cán bộ đủ tiêu chuẩn để ứng cử hoặc bổ nhiệm vào các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội theo quy định của Điều lệ Đảng. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước đổi mới cơ chế, nội dung, phương thức hoạt động, là nhân tố góp phần vào việc thi hành Điều lệ Đảng của các tổ chức đảng và đảng viên được thực hiện nghiêm túc.

Điều lệ Đảng khoá XI đã quy định về chức năng, nhiệm vụ của đảng đoàn, ban cán sự đảng chỉ lãnh đạo công tác kiểm tra, không trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm tra nhằm phù hợp với thực tiễn hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng (không có cơ quan giúp việc). Theo hướng dẫn của Trung ương, các đảng đoàn, ban cán sự đảng đã cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ, phân định rõ trách nhiệm của từng thành viên thông qua việc xây dựng và ban hành quy chế làm việc nhằm xác định và bảo đảm vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; hoạt động của đảng đoàn ban cán sự đảng đã có chuyển biến rõ nét. Nhìn chung, các đảng đoàn, ban cán sự đảng đã thực hiện được chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Trung ương.

2. Những hạn chế, thiếu sót trong thi hành Điều lệ Đảng

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XI đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót sau đây:

2.1. Việc phối hợp tham mưu giữa các ban tham mưu của Trung ương có lúc, có nơi còn chậm, vẫn có tình trạng khép kín trong xây dựng quy định, hướng dẫn. Văn bản tham mưu cá biệt có trường hợp nội dung quy định không thống nhất về cùng một vấn đề; thậm chí văn bản của Đảng có nội dung điều chỉnh lẫn sang các quy định của pháp luật,… Thời gian ban hành một số văn bản cụ thể hoá Điều lệ Đảng chưa bảo đảm tiến độ, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến việc triển khai thi hành Điều lệ Đảng.

2.2. Về đảng viên và công tác đảng viên

Trong công tác phát triển đảng viên, một số cấp kỷ còn chạy theo số lượng, chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục quần chúng để nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, động cơ, mục đích phấn đấu vào Đảng. Việc phân bổ chỉ tiêu kết nạp đảng của một số đảng bộ không được hướng dẫn, kiểm tra cụ thể nên có hiện tượng xuê xoa, dễ dãi, chạy theo thành tích. Số đảng viên được kết nạp ở địa bàn dân cư, là phóng viên, biên tập viên báo chí, xuất bản và nhất là trong khối doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn gặp khó khăn như các nhiệm kỳ trước.

Cách tính tuổi đảng của đảng viên theo quy định mới của Điều lệ Đảng được thực hiện nền nếp, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nhưng do chưa quy định thống nhất với thời điểm và cách tính thời gian dự bị của đảng viên, dẫn tới tình trạng lúng túng trong thực hiện nghiệp vụ và công tác đảng viên.

Đảng viên có quyền được chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời, nhưng hoạt động chất vấn mới diễn ra trong phạm vi hẹp và việc thực hiện còn hạn chế…

2.3. Về nguyên tắc tổ chức và cơ cấu tổ chức

Ở một số tổ chức đảng, vẫn có tình trạng một số cấp uỷ viên chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa thật sự tôn trọng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc. Còn tình trạng dân chủ hình thức, thống nhất một chiều, thiếu sự tranh luận, thảo luận thấu đáo hoặc hiểu không đúng nguyên tắc này, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ ở một số nơi. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trên thực tế ở nhiều nơi còn hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi có sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, vô trách nhiệm, trì trệ, lợi dụng cơ chế tập thể để thực hiện ý đồ cá nhân, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân như Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI đã chỉ ra.

Việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình tuy đã có chuyển biến, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, vẫn là khâu yếu trong sinh hoạt đảng; chưa trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp uỷ, tổ chức đảng và đảng viên. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình ở một số nơi bị buông lỏng trong thực hiện, chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát. Ở nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng, tự phê bình và phê bình chủ yếu được thực hiện vào dịp kiểm điểm cuối năm, chưa trở thành việc làm thường xuyên, hàng ngày. Nhiều đảng viên, nhất là các đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp ít thể hiện quan điểm, chính kiến. Nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình nhiều khi chưa đúng thực chất, thường vòng vo, né tránh, thậm chí ở một số nơi còn có sự nể nang, hoặc "dĩ hoà vi quý”, làm cho uy tín, sức chiến đấu của tổ chức đảng bị giảm sút, vừa làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân, vừa làm sai lệch trong nhận xét, đánh giá cán bộ, dẫn đến những hệ luỵ, sai phạm khác trong công tác cán bộ và trong xây dựng tổ chức đảng. Cũng từ những hạn chế đó, một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa chủ động phát hiện, phòng ngừa và hạn chế các vụ việc tiêu cực, sai phạm của đảng viên.

Việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội về cơ bản mới thực hiện được bước giảm đầu mối chung, nhưng còn nhiều tầng nấc, chưa thật sự tinh gọn; hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn thấp. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở một số cơ quan trong hệ thống chính trị còn có những hạn chế, bất cập, nhiều cấp phó, chưa tinh giản được biên chế.

Số lượng cấp uỷ viên, kể cả uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ các cấp từ địa phương đến Trung ương còn bất hợp lý cả về cơ cấu và độ tuổi; tính chất dàn đều, bình quân là một trong những nguyên nhân chính làm ảnh hưởng tới chất lượng cấp uỷ viên.

Điều lệ Đảng quy định ở những tổ chức đảng thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập trong nhiệm kỳ thì cấp uỷ cấp trên được chỉ định cấp uỷ cấp dưới chính thức, tuy nhiên, uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ được chỉ định chính thức lại phải bầu. Vấn đề này đã gây vướng mắc, thêm thủ tục trong quá trình kiện toàn tổ chức đảng.

2.4. Về tổ chức cơ sở đảng

Quy định, hướng dẫn của Trung ương căn cứ vào Điều 23 Điều lệ Đảng khi quy định chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình tổ chức cơ sở đảng có nội dung tương tự như nhau; trong khi tính chất hoạt động khác nhau dẫn tới việc gây khó khăn khi triển khai văn bản vào thực tiễn. Các văn bản quy định, hướng dẫn của Trung ương chưa có sự phân biệt thật rạch ròi, cụ thể đối với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng có tính chất, đặc điểm khác nhau như : xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan hành chính, đơn vị lực lượng vũ trang..., nhất là đối với các loại hình doanh nghiệp có quan hệ sở hữu khác nhau (doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, có vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh, tư nhân,...), dẫn tới khó khăn khi thực hiện.

Việc sinh hoạt định kỳ 1 năm 2 lần của đảng bộ cơ sở theo quy định tại khoản 6, Điều 22 Điều lệ Đảng gặp nhiều khó khăn; nhất là các đảng bộ ở địa bàn miền núi, doanh nghiệp có phạm vi hoạt động rộng, những đảng bộ có đông đảng viên, đảng viên hoạt động phân tán,...

Một số chi bộ chưa thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt theo định kỳ 1 tháng 1 lần do khó khăn cả về khách quan và chủ quan. Tình trạng đảng viên ở nông thôn, tổ dân phố đi làm ăn xa nơi cư trú tăng lên, thường vắng mặt trong sinh hoạt chi bộ; việc sinh hoạt định kỳ ở các chi bộ thuộc địa bàn doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nơi, có lúc bị cản trở. Một số nơi đề nghị cần đổi mới hình thức sinh hoạt chi bộ như : Sinh hoạt chi bộ định kỳ 2 tháng 1 lần, có nơi đề nghị 3 tháng 1 lần hoặc được sinh hoạt qua mạng (trừ khi cần bỏ phiếu). Việc sinh hoạt thường kỳ ở chi bộ khu dân cư gặp nhiều khó khăn do số lượng đảng viên đông, trụ sở chật hẹp, nhất là ở các đô thị lớn. Nhiều ý kiến đề nghị Điều lệ Đảng nên sửa đổi nội dung này cho phù hợp với thực tiễn mới trong công tác xây dựng Đảng.

2.5. Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng

Nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chưa đầy đủ. Một số cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra chưa xây dựng được phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát trong toàn khoá; việc xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát còn chậm, chưa xây dựng quy định, quy trình kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp mình. Chưa chủ động thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; việc kiểm tra, giám sát cấp uỷ viên cùng cấp còn ít; nội dung kiểm tra về lĩnh vực tài chính, tài sản, công tác cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc xem xét, xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm còn kéo dài, bỏ sót nội dung vi phạm; việc kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính chưa thực hiện đồng bộ, kịp thời. Nội dung, quy trình, phạm vi kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp chưa thật rõ.

Các tổ chức đảng, trước hết là các ban tham mưu, giúp việc của cấp uỷ các cấp chủ yếu thực hiện chức năng tham mưu cho cấp uỷ, còn ít thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng. Việc phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với các ban xây dựng Đảng, các cơ quan chức năng có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ. Nhiều tổ chức cơ sở đảng, nhất là ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát còn khó khăn, lúng túng, hiệu quả thấp.

Nhìn chung, chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Nhiều khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện để kiểm tra, xử lý nên kỷ cương, kỷ luật ở một số tổ chức đảng chưa nghiêm, một số cấp uỷ còn thiếu sự đoàn kết, nhất trí.

Điều lệ Đảng khoá XI tuy đã được bổ sung, sửa đổi, nhưng vẫn còn một số nội dung chưa đủ rõ như : Quy định về đối tượng, nội dung kiểm tra, giám sát; về khiếu nại và cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của đảng viên; về thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ theo nội dung vi phạm có nội dung còn quá rộng hoặc chưa phù hợp với thực tiễn. Một số quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng ban hành chậm, có nội dung chưa thể hướng dẫn được do Điều lệ Đảng chưa quy định.

2.6. Về Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Trong thực tiễn hoạt động nhiệm kỳ vừa qua, vai trò lãnh đạo của đảng đoàn, ban cán sự đảng ở những nơi lập đảng đoàn, ban cán sự đảng và vai trò lãnh đạo của tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị có lúc còn trùng lặp; thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo kiểm tra, giám sát của đảng đoàn, ban cán sự đảng gặp khó khăn do thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể. Thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của đảng đoàn, ban cán sự đảng với đảng uỷ cơ quan, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thật rõ.

Nhiều ý kiến đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần chỉ đạo việc tiến hành tổng kết mô hình hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng để rút kinh nghiệm thực tiễn, qua đó xác định rõ cơ quan, lĩnh vực nào cần có đảng đoàn, ban cán sự đảng; nghiên cứu để quy định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ và phân cấp cụ thể đối với đảng đoàn, ban cán sự đảng ở các văn bản cụ thể hoá Điều lệ Đảng để việc thực hiện được thuận lợi, tháo gỡ lúng túng, vướng mắc.

Qua tổng hợp cho thấy, Điều lệ Đảng khoá XI qua thực tiễn thi hành còn có những nội dung vướng mắc sau đây :

- Quy định về đối tượng, nội dung kiểm tra chưa cụ thể, chưa đủ rõ; quy định về thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ và nội dung, đối tượng đảng viên vi phạm có điểm còn quá rộng, nhất là thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên thuộc cấp trên quản lý..., quá trình thực hiện còn nhiều lúng túng, vướng mắc, cần nghiên cứu bổ sung, sửa đổi hoặc xem xét điều chỉnh bằng các quy chế, quy định của Trung ương.

- Việc quy định đảng bộ cơ sở sinh hoạt định kỳ 1 năm 2 lần, chi bộ sinh hoạt thường kỳ 1 tháng 1 lần, qua thực tiễn cho thấy ở nhiều nơi thực hiện khó khăn, nhất là ở địa bàn miền núi và những đảng bộ có nhiều đảng viên hoạt động phân tán..., cũng có một số cơ quan, đơn vị đề nghị cần nghiên cứu cụ thể hoá, nhất là ở một số nơi có tổ chức và hoạt động đặc thù (đảng viên hoạt động phân tán, khó khăn về cơ sở vật chất,...) để có cơ sở vận dụng về hình thức sinh hoạt.

- Việc quy định về thời gian dự bị của đảng viên để tính tuổi đảng (khoản 1, khoản 4, Điều 5) vẫn gây lúng túng ở nhiều nơi, nhất là khi thể hiện trong thẻ đảng viên và hồ sơ đảng viên. Thiếu quy định về thời gian dự bị hoặc thử thách của đảng viên dự bị vi phạm kỷ luật nhưng chưa tới mức phải xoá tên..., dẫn đến tình trạng ở nhiều nơi vẫn tính thời gian dự bị của đảng viên dự bị vi phạm kỷ luật giống như đảng viên dự bị không vi phạm kỷ luật, gây tâm tư, thắc mắc, nhưng không có cơ sở để hướng dẫn.

- Việc không phân cấp cụ thể trong xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo và việc quy định đảng viên có quyền khiếu nại đến Ban Chấp hành Trung ương (khoản 7, Điều 39), trên thực tế đã gây nhiều khó khăn, nhiều trường hợp vi phạm nhỏ, tính chất không nghiêm trọng, những đảng viên ở cơ sở vẫn khiếu nại đến Ban Chấp hành Trung ương, gây tốn kém, lãng phí thời gian, công sức và việc giải quyết khiếu nại kéo dài.

- Thiếu quy định về điều kiện chỉ định đảng viên ngoài đảng bộ tham gia cấp uỷ; về việc chỉ định uỷ ban kiểm tra chính thức cùng với việc chỉ định cấp uỷ chính thức ở những đảng bộ thành lập mới, chia tách, sáp nhập; về quyền khiếu nại của đảng viên về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của bản thân đảng viên, về kỷ luật đảng, quyền tố cáo của đảng viên đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…, đã gây lúng túng trong tổ chức thực hiện Điều lệ Đảng.

- Về giới hạn số lượng đảng viên của chi bộ là 30 đảng viên (Điều 21) không phù hợp với thực tế ở nhiều nơi, nhất là địa bàn hành chính, đơn vị sản xuất, khi mà số lượng đảng viên trong một địa bàn hành chính, dân cư, đơn vị sản xuất ngày càng tăng, vượt quá số lượng 30 đảng viên, thậm chí tăng gấp nhiều lần.

- Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ bộ phận không được quy định cụ thể trong Điều lệ Đảng, dẫn tới tổ chức và hoạt động của loại hình này còn nhiều lúng túng, vướng mắc

3. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót

3.1. Nguyên nhân khách quan

Những diễn biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới, các thế lực thù địch không ngừng chống phá nhằm gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội nước ta, sử dụng mọi phương tiện xuyên tạc, chia rẽ nhằm làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chia rẽ nội bộ Đảng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Quá trình thực hiện kinh tế thị trường chúng ta chưa lường hết được những tác động mặt trái của nó. Việc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện, những việc bồi dưỡng, nâng cao cảnh giác, sức đề kháng cho cán bộ, đảng viên trước những tác động xấu còn hạn chế.

Nhiệm kỳ này có sự thay đổi theo hướng nâng thẩm quyền ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể hoá Điều lệ Đảng và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư (trước do Bộ Chính trị ban hành, nay do Ban Chấp hành Trung ương ban hành), nên một số quy định ban hành chậm, việc tổ chức thực hiện Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương có những khó khán, lúng túng.

3.2. Nguyên nhân chủ quan

- Một số đảng viên, cấp uỷ viên chưa tự giác nghiên cứu, học tập Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của dung ương về thi hành Điều lệ Đảng, không nắm chắc nguyên tắc, nội dung quy định, hướng dẫn, dẫn đến việc thực hiện thiếu thống nhất hoặc thực hiện không đúng Điều lệ Đảng.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo tiêu chuẩn của người đảng viên ở nhiều đảng bộ chưa được coi trọng, chưa đủ sức phát huy đầy đủ ý thức trách nhiệm, động viên cán bộ, đảng viên thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu nâng cao ý chí, đạo đức cách mạng. Ý thức gương mẫu, nêu gương của cấp trên, của cấp uỷ viên và cán bộ trước đảng viên, quần chúng chưa được phát huy, có lúc, có nơi còn bị coi nhẹ, thi hành Điều lệ Đảng thiếu nghiêm túc, rơi vào hình thức.

- Công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới, việc giữ gìn kỷ luật, kỷ cương ở một số tổ chức đảng và đảng viên chưa thường xuyên; việc xử lý một số trường hợp vi phạm còn nể nang, thiếu kiên quyết.

- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ theo quy định của Điều lệ Đảng ở nhiều nơi còn mang tính hình thức hoặc thực hiện chưa phù hợp, do thiếu quy định cụ thể, chưa xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân,...

- Một số quy định của Điều lệ Đảng hoặc hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng còn có điểm chưa cụ thể hoặc chưa đầy đủ; việc giao thẩm quyền hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng cho Ban Chấp hành Trung ương thay vì Bộ Chính trị như các khoá trước là một chủ trương đúng, nhưng là lần đầu thực hiện nên triển khai hướng dẫn còn chậm, làm cho việc thi hành Điều lệ Đảng gặp khó khăn, lúng túng.

Một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa quan trọng của việc tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt Điều lệ Đảng, chưa đầu tư đúng mức về thời gian, công sức cho công tác này.

Một số cấp uỷ viên và đảng viên chưa gương mẫu trong thực hiện Điều lệ Đảng, thậm chí còn vi phạm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; thực hiện chưa đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của đảng viên. Việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi, đến chốn; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm hoặc làm chiếu lệ.

Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên trách đảng còn chưa đào sâu suy nghĩ; dành ít thời gian, công sức tìm hiểu, nghiên cứu Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương về xây dựng Đảng để tham mưu giúp cấp uỷ ban hành và tổ chức thực hiện các quy định, hướng dẫn theo thẩm quyền, trách nhiệm hoặc để áp dụng vào công việc chuyên môn, nên lúng túng, vận dụng thiếu thống nhất, nhất là việc tính tuổi đảng cho đảng viên, ghi hồ sơ đảng viên.

Nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng hoặc vi phạm khi thực hiện, chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, thậm chí rơi vào hình thức; việc thực hiện chất vấn, tranh luận, đối thoại trong các hội nghị cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ các cấp còn rất hạn chế. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân…

Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành quy định, hướng dẫn về công tác xây dựng Đảng thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chưa kịp thời; văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Việc đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thực sự trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém.

Một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt, việc tốt không được đề cao, bảo vệ; khuyết điểm, sai phạm chưa được phê phán, xử lý nghiêm minh. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, kiên quyết đấu tranh với những sai phạm trong thực hiện Điều lệ Đảng. Việc xử lý vi phạm còn nể nang, thiếu nghiêm túc và còn chậm; vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao.

Phần thứ hai

ĐỂ XUẤT BỔ SUNG, SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ ĐẢNG CỦA CÁC CẤP UỶ, TỔ CHỨC ĐẢNG

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội XI của Đảng thông qua đã tiếp tục khẳng định những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đáp ứng cơ bản yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng, là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Một số nội dung bổ sung, sửa đổi trong Điều lệ Đảng khoá XI đã phát huy tác dụng, đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay, phù hợp với các quan điểm, nội dung của Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Tuy vậy, thông qua tổng kết thực tiễn, đánh giá sâu sắc những kết quả đạt được, những hạn chế vướng mắc trong thi hành Điều lệ Đảng; đồng thời có những vấn đề mới được tổng kết, đúc rút trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đã được quy định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước (năm 2011) và Hiến pháp (năm 2013), cũng đặt ra những vấn đề cần xem xét, cân nhắc, để có thể nghiên cứu bổ sung vào Điều lệ Đảng…

Ban Chấp hành Trung ương xin báo cáo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về quan điểm của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đối với việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; đồng thời báo cáo về đề xuất của các cấp uỷ, tổ chức đảng đối với những vấn đề cần nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng khoá XI để trên cơ sở đó, Đại hội thảo luận, cho định hướng cần bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng khoá XI hoặc không nhất thiết phải bổ sung, sửa đổi mà chỉ cần điều chỉnh bằng các quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XII. Cụ thể như sau:

I- VỀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

(1) Kiên định các nguyên tắc cơ bản về Đảng và xây dựng Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; nghiên cứu bổ sung, phát triển, thể chế hoá những quan điểm mới có tính nguyên tắc về xây dựng Đảng, nhất là những quan điểm mới thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); những nội dung mới về Đảng và hệ thống chính trị được quy định trong Hiến pháp năm 2013.

(2) Kế thừa cơ bản những nội dung của Điều lệ Đảng khoá XI, chỉ nghiên cứu sửa đổi những quy định không còn phù hợp hoặc còn thiếu; bổ sung vào Điều lệ Đảng những vấn đề có tính nguyên tắc hoặc những vấn đề đã được thực tiễn xây dựng Đảng thời gian qua khẳng định là đúng đắn, cần thiết, chín muồi, phổ biến, thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội Đảng toàn quốc.

(3) Phát huy dân chủ, trí tuệ trong thảo luận, phản ánh đầy đủ ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên, của các cấp ủy, tổ chức đảng, các thành viên trong hệ thống chính trị, nhất là các ý kiến đã được tổng kết, đúc rút từ lý luận và thực tiễn công tác xây dựng Đảng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng.

Các cấp uỷ đảng, tổ chức đảng đề xuất, kiến nghị bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng hiện hành ở những nội dung sau :

1. Phần mở đầu của Điều lệ Đảng

Nhiều ý kiến cho rằng : Phần mở đầu của Điều lệ Đảng hiện hành đã thể hiện khái quát những vấn đề cơ bản về Đảng và nguyên tắc xây dựng Đảng. Quán triệt quan điểm chỉ đạo ở phần trên, Dự thảo Điều lệ Đảng bổ sung, sửa đổi phải tiếp tục giữ những nội dung và nguyên tắc cơ bản đó; nếu có nghiên cứu bổ sung, sửa đổi thì chỉ nên trình bày có tính hệ thống hơn và bổ sung một số nội dung mới có tính nguyên tắc về Đảng và hệ thống chính trị mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện.

Về nội dung đề xuất cụ thể qua tổng kết có một số điểm đáng chú ý sau:

1.1.Về mục đích của Đảng (khổ 3), có 2 loại ý kiến :

Loại ý kiến thứ nhất : Giữ như Điều lệ Đảng hiện hành "Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”.

Loại ý kiến thứ hai : Đề nghị bổ sung nội dung Đảng  để phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và diễn đạt đầy đủ là : "Mục đích của Đảng là không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản".

Ngoài ra có ý kiến đề nghị chỉnh sửa cụm từ "và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản"; vì Cương lĩnh không có cụm từ này.

1.2. Khổ 5, đề xuất 2 phương án :

- Phương án 1 : Giữ như Điều lệ Đảng hiện hành “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc : tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

- Phương án 2 : Nghiên cứu, bổ sung quy định của Hiến pháp năm 2013 tại Điều 4 về Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân,... Các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật và diễn đạt đầy đủ là :

“Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc : tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân, các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

1.3. Về xây dựng Đảng vững mạnh (khổ cuối trong phần mở đầu Điều lệ Đảng), đề xuất 2 phương án :

- Phương án 1 : Giữ như Điều lệ Đảng hiện hành "Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng".

- Phương án 2 : Ngoài việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cần bổ sung thêm ý nói về xây dựng Đảng trong sạch về đạo đức, nâng cao trình độ trí tuệ, như đã thể hiện trong Cương lĩnh chính trị và diễn đạt đầy đủ là :

"Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong sạch về đạo đức, nâng cao trình độ trí tuệ, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng".

 2. Những nội dung của Điều lệ Đảng về đảng viên và công tác đảng viên

2. 1. Tại Điều 1 có 2 loại ý kiến :

Một số ý kiến nêu : Điều 1 Điều lệ Đảng hiện hành có 2 nội dung khác nhau : Khoản 1 quy định về tiêu chuẩn chung của đảng viên, khoản 2 nêu những điều kiện để có thể xem xét kết nạp công dân ưu tú vào Đảng. Để phù hợp về mặt logic, đề nghị chuyển khoản 2 thành một nội dung của Điều 4 quy định về điều kiện và thủ tục xem xét kết nạp đảng.

Qua thảo luận có 2 loại ý kiến tương ứng với 2 phương án đề xuất :

- Phương án 1 : Giữ như Điều lệ Đảng hiện hành :

"- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.

- Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện : thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.

- Phương án 2 : Chuyển nội dung điều kiện để trở thành đảng viên thành một mục ở Điều 4.

2.2. Điều 3. Quyền hạn của đảng viên

Một số ý kiến nêu : Trong 4 quyền của đảng viên được Điều lệ Đảng quy định, chưa có quyền khiếu nại liên quan đến quyền lợi của đảng viên, quyền tố cáo của đảng viên đối với hành vi vi phạm Điều lệ Đảng của đảng viên, tổ chức đảng; đề nghị bổ sung quyền này vào Điều lệ Đảng để phù hợp với quy định chung của pháp luật. Một số ý kiến khác lại đề nghị giữ như quy định hiện hành vì cho rằng các quyền này thực hiện trong thời gian qua không có gì vướng mắc.

Qua thảo luận có 2 loại ý kiến tương ứng với đề xuất 2 phương án :

- Phương án 1 : Giữ như Điều lệ Đảng hiện hành.

“Đảng viên có quyền :

- Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng: biểu quyết công việc của Đảng.

- Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

- Phê bình chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức, báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.

- Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.

Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng".

- Phương án 2 : Bổ sung quyền khiếu nại liên quan đến quyền lợi của đảng viên, tố cáo của đảng viên đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng vào khoản 3 (theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI) :

“Đảng viên có quyền :

- Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng.

- Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

- Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.

- Khiếu nại, trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.

Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng".

2.3. Khoản 1, khoản 4, Điều 5 : Thời gian dự bị và tuổi đảng của đảng viên

Một số ý kiến nêu, Điều lệ Đảng quy định cách tính tuổi đảng của đảng viên được công nhận chính thức tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp; thời gian dự bị của đảng viên là mười hai tháng tính từ ngày chi bộ tổ chức lễ kết nạp. Việc này gây khó khăn, lúng túng cho các cấp uỷ khi vận dụng, nhất là ở đầu nhiệm kỳ khi chưa có hướng dẫn cụ thể.

Qua thảo luận, các ý kiến đề xuất giữ như quy định hiện hành :

"- Người được kết nạp vào Đảng phải trải qua thời kỳ dự bị mười hai tháng, tính từ ngày chi bộ tổ chức lễ kết nạp. Trong thời kỳ dự bị, chi bộ tiếp tục giáo dục, rèn luyện và phân công đảng viên chính thức giúp đảng viên đó tiến bộ.

- Đảng viên đã được công nhận chính thức thì tuổi đảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp".

3. Về nguyên tắc tổ chức và hệ thống tổ chức của Đảng

Một số ý kiến đề nghị nghiên cứu, bổ sung vào Điều lệ Đảng một số quy định sau để bảo đảm tính toàn diện và tạo cơ sở cho các quy định cụ thể thi hành Điều lệ Đảng, đó là :

3.1. Nghiên cứu việc chỉ định cấp uỷ ở một số đảng bộ đặc thù thì có một số cấp uỷ viên không nhất thiết là đảng viên trong đảng bộ đó (như Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công an, Đảng bộ Ngoài nước,...).

3.2. Tiếp thu những nội dung cơ bản của Quy chế bầu cử trong Đảng và đề xuất bổ sung vào Điều lệ Đảng một điều mới (tạm gọi là Điều 11B, sau Điều 11) với một số nội dung sau :

- Cấp uỷ triệu tập đại hội có trách nhiệm chuẩn bị nhân sự cấp uỷ khoá mới. Danh sách ứng cử viên do cấp uỷ triệu tập đại hội chuẩn bị là danh sách đề cử chính thức với đại hội.

- Cấp uỷ viên cấp triệu tập đại hội không được đề cử nhân sự ngoài danh sách do cấp uỷ đề cử; không được ứng cử và nhận đề cử nếu không có tên trong danh sách đề cử của cấp uỷ.

3.3. Khoản 5, Điều 13

Điều lệ Đảng hiện hành quy định : “Từ tổ chức cơ sở đảng đến đảng bộ trực thuộc Trung ương nếu được thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập trong nhiệm kỳ, thì cấp uỷ cấp trên chỉ định cấp uỷ chính thức; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của các cấp ủy này không nhất thiết là 5 năm để nhiệm kỳ đại hội phù hợp với nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đảng cấp trên”.

Nhiều ý kiến đề xuất bổ sung cụm từ “uỷ ban kiểm tra" sau cụm từ "chỉ định cấp uỷ", bỏ cụm từ "chính thức" ở nội dung này, để diễn đạt đầy đủ là :

“Từ tổ chức cơ sở đảng đến đảng bộ trực thuộc Trung ương nếu được thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập trong nhiệm kỳ, thì cấp uỷ cấp trên chỉ định cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của các cấp uỷ này không nhất thiết là 5 năm để nhiệm kỳ đại hội phù hợp với nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đảng cấp trên".

Theo các ý kiến đề xuất, quy định như trên nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất hợp lý trong việc kiện toàn cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra ở những tổ chức đảng này, cấp uỷ là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa 2 kỳ đại hội thì chỉ định, uỷ ban kiểm tra lại phải bầu.

4. Tổ chức cơ sở đảng

Một số ý kiến đề nghị nên nghiên cứu sửa đổi khoản 1, Điều 22 : Về nhiệm kỳ của tổ chức cơ sở đảng, qua thảo luận có 2 loại ý kiến :

- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị giữ như quy định hiện hành : "Đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên của tổ chức cơ sở đảng do cấp uỷ cơ sở triệu tập năm năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn nhưng không quá một năm".

- Loại ý kiến thứ hai đề nghị bổ sung, sửa đổi như sau : "Đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên của tổ chức cơ sở đảng do cấp uỷ cơ sở triệu tập năm năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn nhưng không quá một năm. Giữa nhiệm kỳ đảng bộ tổ chức hội nghị với các nội dung theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương".

5. Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam

5.1. Về đảng bộ bộ phận, có 2 loại ý kiến :

- Quân uỷ Trung ương đề nghị quy định nhiệm vụ, quyền hạn của đảng bộ bộ phận mang tính đặc thù của lực lượng vũ trang trong Điều lệ Đảng, vì : Đảng bộ bộ phận được xác định là một cấp bộ đảng nhưng chưa được quy định nhiệm vụ, quyền hạn, mặt khác, từ thực tế của đảng bộ bộ phận trong Quân đội khẳng định là phù hợp và cần quy định trong Điều lệ Đảng để có cơ sở pháp lý cho đảng bộ bộ phận hoạt động.

- Một số ý kiến khác đề nghị : Giữ như Điều lệ Đảng hiện hành, không quy định nhiệm vụ của đảng bộ bộ phận, vì cho rằng : Đảng bộ bộ phận là tổ chức đảng đặc thù trong Quân đội và Công an, không mang tính phổ biến. Vì vậy, chỉ cần cụ thể hoá trong Quy định thi hành Điều lệ Đảng là đủ.

5.2. Về khoản 1, Điều 26

Quân uỷ Trung ương đề nghị quy định rõ trong Điều lệ Đảng đồng chí Tổng Bí thư trực tiếp làm Bí thư Quân uỷ Trung ương, vì đây là 2 chức danh có tính độc lập và có vị trí không ngang bằng nhau. Tổng Bí thư là người đứng đầu toàn Đảng, là cấp trên của bí thư cấp uỷ, tổ chức đảng, trong đó có chức danh Bí thư Quân uỷ Trung ương. Mặt khác, để thống nhất cách sử dụng từ ngữ trong Điều lệ Đảng, đề nghị sửa lại là : Đồng chí Tổng Bí thư trực tiếp làm Bí thư Quân uỷ Trung ương và diễn đạt lại như sau :

"Quân uỷ Trung ương do Bộ Chính trị chỉ định, gồm một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong quân đội và một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác ngoài Quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Tổng Bí thư trực tiếp làm Bí thư Quân uỷ Trung ương".

- Một số ý kiến khác đề nghị giữ như quy định hiện hành.

5.3. Về khoản 2, Điều 26, có 2 loại ý kiến :

- Quân uỷ Trung ương đề nghị bổ sung cụm từ "đồng thời chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị và công tác cán bộ trong quân đội" để biên tập lại là :

"Quân uỷ Trung ương nghiên cứu, đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, lãnh đạo toàn quân về mọi mặt; đồng thời chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị và công tác cán bộ trong Quân đội".

Theo Quân uỷ Trung ương : Bổ sung như trên để quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của Quân uỷ Trung ương, nhất là về công tác cán bộ, vì : Theo quy định của Điều lệ Đảng và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thì thành phần của Quân uỷ Trung ương bao gồm cả các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, nhưng khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư những nội dung về công tác cán bộ thì đồng thời phải báo cáo các ban đảng Trung ương và Ban cán sự đảng Chính phủ thẩm định; thời gian thẩm định của các cơ quan thường kéo dài nhiều khi chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội. Mặt khác, nếu ý kiến thẩm định của các cơ quan Trung ương không thống nhất với Quân uỷ Trung ương, thì vô hình trung các cơ quan Trung ương đã phủ quyết cả ý kiến các đồng chí lãnh đạo cao nhất; điều đó không phù hợp. Từ thực tiễn trên đề nghị quy trình thẩm định của các cơ quan Trung ương đối với công tác cán bộ trong Quân đội thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được thực hiện như sau : theo kế hoạch của Quân uỷ Trung ương, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cùng với các ban đảng Trung ương chuẩn bị các nội dung về công tác cán bộ. Sau khi thống nhất với các ban đảng Trung ương, Tổng cục Chính trị trình Quân uỷ Trung ương quyết định.

- Một số ý kiến khác lại cho rằng nên giữ như quy định hiện hành : “Quân uỷ Trung ương nghiên cứu đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; lãnh đạo mọi mặt trong quân đội". Vì cơ chế trên là phù hợp, đã được thực hiện trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; phù hợp với quy định về phân cấp quản lý cán bộ hiện nay, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội, kể cả công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ trong quân đội.

Một số ý kiến phân tích cho rằng, mặc dù tham gia Thường vụ Quân uỷ Trung ương có các đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư làm Bộ trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nhưng tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư mới là cơ quan quyết định theo nguyên tắc tập trung dân chủ, do vậy cần giữ như quy định hiện hành.

5.4. Về khoản 2, Điều 27

- Điều lệ Đảng hiện hành quy định :

"Đảng uỷ quân khu gồm các đồng chí công tác trong đảng bộ quân khu do đại hội cùng cấp bầu và các đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trên địa bàn quân khu được chỉ định tham gia; lãnh đạo thực hiện nghị quyết của cấp trên, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; phối hợp với cấp uỷ địa phương thực hiện đường lối, chính sách của Đảng trong quân khu”.

- Quân uỷ Trung ương đề nghị bỏ cụm từ "được chỉ định tham gia" để biên tập lại là :

“Đảng uỷ quân khu gồm các đồng chí công tác trong đảng bộ quân khu do đại hội cùng cấp bầu và các đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành ủy trực thuộc Trung ương trên địa bàn quân khu; lãnh đạo thực hiện nghị quyết của cấp trên, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; phối hợp với cấp uỷ địa phương thực hiện đường lối, chính sách của Đảng trong quân khu”.

Theo Quân uỷ Trung ương : Sửa đổi như trên nhằm quy định rõ các đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương trên địa bàn quân khu là thành viên chính thức của đảng uỷ quân khu; cấp có thẩm quyền không phải ra quyết định chỉ định tham gia nữa, nhằm khắc phục tình trạng gián đoạn, lúng túng khi thực hiện quy trình chỉ định đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ tham gia đảng uỷ quân khu, nhất là khi có thay đổi về nhân sự bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trong nhiệm kỳ.

5.5. Về khoản 3, Điều 28

Đảng uỷ Công an Trung ương và nhiều ý kiến đề nghị : Đổi cụm từ Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân thành cụm từ Tổng cục Chính trị vì : Bộ Chính trị đã quyết định đổi tên như trên đối với lực lượng này; vì vậy, nội dung này phải diễn đạt đầy đủ là :

“Tổng cục Chính trị đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong các đơn vị thuộc đảng bộ công an, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ Công an Trung ương; phối hợp với cấp uỷ địa phương chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong lực lượng công an địa phương".

5. 6. Về khoản 2, Điều 29

Điều lệ Đảng hiện hành quy định : đảng uỷ công an tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã do đại hội đảng bộ cùng cấp bầu”.

Đảng uỷ Công an Trung ương đề nghị biên tập lại là : "Đảng uỷ công an, cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã do đại hội đảng bộ cùng cấp bầu và đồng chí phó bí thư thường trực hoặc chủ tịch uỷ ban nhân dân được cấp uỷ địa phương cùng cấp chỉ định tham gia". Vì hiện nay, có nhiều địa phương đã thành lập sở cảnh sát phòng cháy, chữa cháy theo quy định của Luật mà lực lượng này cũng nằm trong lực lượng Công an nhân dân.

6. Công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật đảng và uỷ ban kiểm tra các cấp

6.1. Về khoản 2, Điều 30, có 2 loại ý kiến :

- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị bổ sung cụm từ “chính sách, pháp luật của Nhà nước" vào cuối khoản này, để biên tập lại là : "Các cấp uỷ đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điền lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước".

Theo loại ý kiến này, bổ sung như vậy để phù hợp với quy định của Hiến pháp nám 2013 là : Tổ chức đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Vì trong điều kiện đảng cầm quyền thì việc kiểm tra, giám sát cả việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với tổ chức đảng và đảng viên là phù hợp; nội dung trên cũng đã nên trong các nghị quyết, quy định của Đảng và hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII, Điều lệ Đảng khoá XI. Việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước là một trong những nhiệm vụ của đảng viên được quy định tại Điều 11 Điều lệ Đảng. Mặt khác, thực tế những năm qua, cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp đã tiến hành có hiệu quả việc kiểm tra, giám sát đối với nhiều tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên về thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Loại ý kiến khác cho rằng : Trong nội bộ đảng thì hoạt động kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên chỉ nên giới hạn trong phạm vi chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định,... của Đảng; còn việc vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước thì đã có hệ thống pháp luật và các cơ quan hành pháp, tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật chung mà đảng viên, tổ chức đảng và mọi tổ chức và công dân đều phải tuân theo; không nhất thiết phải bổ sung nội dung này vào Điều lệ Đảng.

6.2. Về khoản 1, Điều 31

Điều lệ Đảng hiện hành quy định : "Uỷ ban kiểm tra các cấp do cấp uỷ cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp uỷ và một số đồng chí ngoài cấp uỷ”. Có 2 loại ý kiến :

- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị bổ sung cụm từ "được lập từ đảng bộ cơ sở trở lên" sau cụm từ "uỷ ban kiểm tra các cấp" và đề xuất 2 phương án :

Phương án 1 : "Uỷ ban kiểm tra các cấp được lập từ đảng bộ cơ sở trở lên, do cấp uỷ cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp uỷ và một số đồng chí ngoài cấp ủy”.

Phương án 2 : "Uỷ ban kiểm tra các cấp được lập từ đảng bộ cơ sở trở lên, do đại hội cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp uỷ và một số đồng chí ngoài cấp uỷ".

- Các ý kiến khác cho rằng : Vấn đề này đã được các cấp uỷ, tổ chức đảng và Ban Chấp hành Trung ương khoá X thảo luận, xem xét trong quá trình tổng kết thi hành Điều lệ Đảng khoá X để bổ sung, sửa đổi trong Điều lệ Đảng khoá XI; nhiều ý kiến khi đó đều cho rằng nên quy định uỷ ban kiểm tra do cấp uỷ cùng cấp bầu, nếu xét thấy cần thì Ban Chấp hành Trung ương có thể quy định tăng thêm thẩm quyền, trách nhiệm cho uỷ ban kiểm tra các cấp, vì vậy Đại hội XI đã không đặt ra việc bổ sung, sửa đổi đối với nội dung này.

- Nhiều ý kiến đề nghị : Đây là vấn đề lớn, liên quan đến tổ chức và hoạt động của Đảng, cần có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng hơn hoặc có thể cho thực hiện thí điểm ở một số cấp uỷ để tổng kết, rút kinh nghiệm, trước khi bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng và trước mắt nên giữ như quy định hiện hành.

6.3. Một số nội dung khác

a) Khoản 5, Điều 23 : Về nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng

Điều lệ Đảng hiện hành quy định : “Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng".

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và nhiều ý kiến đề nghị biên tập lại như sau : “Kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi quản lý trong việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật cua Nhà nước”.

b) Khoản 2, khoản 3, Điều 32 Điều lệ Đảng hiện hành quy định :

"Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

Giám sát đảng viên, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ diện cấp uỷ cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương”.

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và nhiều ý kiến đề nghị biên tập lại như sau :

"Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nuớc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

Giám sát đảng viên, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp và tổ chức đảng cấp dưới trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương".

c) Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thêm cụm từ "giám sát" để biên tập lại Điều 33 như sau :

“Ủy ban kiểm tra có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên báo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra, giám sát”

6.4. Về khen thưởng, kỷ luật đảng (Chương VIII)

Điều 36 Điều lệ Đảng hiện hành quy định :

"- Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền khai trừ đảng viên nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

- Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

Ban thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

- Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; khiển trách, cảnh cáo Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên" .

Đề nghị biên tập lại như sau :

"- Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ giao.

Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyển quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền khai trừ đảng viên nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

- Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp nhưng không phải là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý.

Ban thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp trên quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và cấp trên.

- Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương".

b) Khoản 1, Điều 3 Điều lệ Đảng hiện hành quy định :

“Cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng cấp dưới".

Đề nghị biên tập lại như sau :

“Cấp uỷ cấp trên trực tiếp hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp huyện và tương đương trở lên quyết định khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng cấp dưới".

c) Khoản 3, Điều 38 Điều lệ Đảng hiện hành quy định :

“Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng và khai trừ đảng viên phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và do tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định".

Đề nghị biên tập lại như sau :

"Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng và khai trừ đảng viên phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định".

d) Các khoản 5, 7, 9, Điều 39 Điều lệ Đảng hiện hành quy định :

“Quyết định của cấp trên về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải được thông báo đến cấp dưới, nơi có tổ chức đảng và đảng viên vi phạm; trường hợp cần thông báo rộng hơn thì do cấp uỷ có thẩm quyền quyết định.

Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật, thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật".

Đề nghị biên tập lại như sau :

“Quyết định của cấp trên về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải được thông báo đến cấp dưới, nơi có tổ chức đảng và đảng viên vi phạm; trường hợp cần thông báo rộng hơn thì do tổ chức đảng quyết định kỷ luật quyết định.

Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng 30 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định : Tổ chức đảng bị kỷ luật bằng hình thức giải tán, đảng viên bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương; tổ chức đảng bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, đảng viên bị kỷ luật bằng các hình thức từ khiển trách đến cách chức có quyền khiếu nại đến cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cách cấp đã giải quyết kỷ luật hai cấp; trường hợp đảng viên bị kỷ luật từ khiển trách đến khai trừ do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương trở lên quyết định thì có quyền khiếu nại đến Ban Chấp hành Tnmg ương. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với mình".

đ) Khoản 3, khoản 4, Điều 40 Điều lệ Đảng hiện hành quy định :

"Đảng viên bị kỷ luật cách chức, trong vòng một năm, kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp uỷ, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn.

Việc đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng phải được cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra có thẩm quyền quyết định theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương".

Đề nghị biên tập lại như sau :

"Đảng viên bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức, trong vòng 1 năm kể từ ngày công bố quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn.

Việc đình chỉ sinh hoạt đảng, đình chỉ chức vụ của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng và việc quyết định cho đảng viên trở lại sinh hoạt đảng, trở lại đảm nhiệm chức vụ, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt cấp ủy và tổ chức đảng hoạt động trở lại phải được cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra có thẩm quyền quyết định theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương".

Các ý kiến khác lại đề nghị nên giữ như quy định hiện hành.

6.5. Một số nội dung khác

- Đề nghị thay cụm từ "các ban của cấp uỷ đảng" bằng cụm từ "các ban của Đảng ở Trung ương và địa phương" tại khoản 3, Điều 25 để biên tập lại là : “Các ban của Đảng ở Trung ương và địa phương theo chức năng giúp cấp uỷ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam".

- Có ý kiến đề nghị bổ sung hình thức kỷ luật "lưu đảng" đối với đảng viên không giữ chức vụ.

- Có ý kiến đề nghị sửa lại khoản 3, Điều 40 theo hướng : Đảng viên bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo trong vòng một năm; bị kỷ luật cách chức trong vòng 3 năm, kể từ ngày có quyết định, không được quy hoạch, không được bầu vào cấp uỷ, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn.

7. Về kiến nghị khác

Một số ý kiến của các cấp uỷ đảng cho rằng : Điều lệ Đảng chỉ nên quy định những nguyên tắc cơ bản nhất, bao quát nhất về bản chất, mục tiêu, lý tưởng của Đảng, và tiêu chuẩn đảng viên, về tổ chức và hoạt động của Đảng..., những vấn đề khác có thể thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm tình hình của từng giai đoạn cách mạng, có thể điều chỉnh bằng quy chế, quy định, hướng dẫn của Trung ương thì không nhất thiết phải đưa thành quy định trong Điều lệ Đảng.

Theo tinh thần đó, các ý kiến này đề nghị : Nếu bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng khoá XI thì nên nghiên cứu, lược bỏ những quy định không mang tính nguyên tắc nêu trên.

Phần thứ ba

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XI

Từ báo cáo tổng kết thi hành Điều lệ Đảng khoá XI và đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng khoá XI (nếu có) của các cấp uỷ, tổ chức đảng, báo cáo kiểm tra chuyên đề về thực hiện Điều lệ Đảng tại 28 đầu mối tổ chức đảng trực thuộc Trung ương và kết quả kiểm tra thi hành Điều lệ Đảng khoá XI của các đoàn công tác của Tổ Biên tập và của Tiểu ban Điều lệ Đảng, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI nhận thấy :

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội XI của Đảng thông qua đã tiếp tục khẳng định những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đáp ứng cơ bản yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng hiện nay là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Một số nội dung bổ sung, sửa đổi đã phát huy tác dụng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xây dựng Đảng, phù hợp với những quan điểm, nội dung quan trọng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Tuy vậy, thông qua việc tổng kết thực tiễn, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI cho rằng : Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XI vẫn còn những hạn chế, thiếu sót do việc tổ chức thi hành Điều lệ Đảng và do một số quy định trong Điều lệ Đảng hiện hành chưa đủ rõ hoặc chưa đầy đủ. Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đề nghị : Đối với những hạn chế, thiếu sót trong tổ chức thực hiện, chúng ta cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, kịp thời đề ra các giải pháp để khắc phục; đối với những hạn chế, vướng mắc xuất phát từ quy định của Điều lệ Đảng cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và cân nhắc việc bổ sung, sửa đổi trong Điều lệ Đảng hoặc trong các văn bản quyết định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XII.

Ban Chấp hành Trung ương khoá XI xin kiến nghị với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng khoá XI (nếu có), như sau :

I- QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO

Do tính chất đặc biệt quan trọng của Điều lệ Đảng, việc bổ sung, sửa đổi (nếu có) phải bám sát các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo sau đây :

1. Kiên định các nguyên tắc cơ bản về Đảng và xây dựng Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển, thể chế hoá những quan điểm mới có tính nguyên tắc về xây dựng Đảng, nhất là những quan điểm mới thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 về Đảng và hệ thống chính trị.

2. Kế thừa cơ bản những nội dung của Điều lệ Đảng khoá XI, chỉ nghiên cứu bổ sung, sửa đổi những quy định không còn phù hợp, hoặc còn thiếu; bổ sung vào Điều lệ Đảng những vấn đề có tính nguyên tắc đã được thực tiễn xây dựng Đảng thời gian qua kiểm nghiệm khẳng định là đúng đắn, cần thiết, chín muồi, phổ biến, thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Những vấn đề không mang tính nguyên tắc, không thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng thì có thể điều chỉnh bằng quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

3. Phát huy dân chủ, trí tuệ trong thảo luận, tập hợp đầy đủ, trung thực ý kiến tham gia của cán bộ, đảng viên, của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các thành viên trong hệ thống chính trị, nhất là các ý kiến đã được tổng kết, đúc rút từ lý luận và thực tiễn công tác xây dựng Đảng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng để bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng (nếu có).

II- VỀ BỔ SUNG, SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ ĐẢNG

Điều lệ Đảng rất hệ trọng, mới được Đại hội XI của Đảng thông qua. Thời gian từ sau khi có hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng khoá XI tới nay chưa dài, một số điểm mới được bổ sung, sửa đổi trong Điều lệ Đảng khoá XI vẫn cần có thêm thời gian để kiểm chứng. Bên cạnh đó, qua tổng kết thực tiễn thi hành Điều lệ Đảng từ đầu nhiệm kỳ tới nay cho thấy :

1. Những vướng mắc, hạn chế, khuyết điểm trong thi hành Điều lệ Đảng khoá XI chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chủ quan trong khâu tổ chức thi hành Điều lệ Đảng chưa nghiêm.

2. Những vướng mắc xuất phát từ quy định của Điều lệ Đảng để từ đó đề xuất bổ sung, sửa đổi không nhiều, tập trung ở 3 loại vấn đề sau :

2.1. Phần lớn các nội dung đề xuất bổ sung, sửa đổi không phải là những nội dung cơ bản, quan trọng mà nếu không sửa đổi sẽ ảnh hưởng đến công tác xây dựng Đảng như : Phần mở đầu của Điều lệ Đảng, phần quy định về đảng viên, công tác đảng viên, nhiệm kỳ của đảng bộ cơ sở, câu, chữ hoặc thay đổi tên gọi của tổ chức...

2.2. Những nội dung như : Nhiệm vụ của đảng bộ bộ phận, đồng chí thay mặt cấp uỷ cùng cấp tham gia (hoặc làm bí thư) đảng uỷ công an, một số quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, thẩm quyền giải quyết khiếu nại kỷ luật…, không nhất thiết phải quy định trong Điều lệ Đảng, mà có thể điều chỉnh bằng quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

2.3. Cũng có vấn đề lớn, quan trọng như : Uỷ ban kiểm tra do cấp uỷ hay đại hội cùng cấp bầu..., nhưng ý kiến còn khác nhau chưa thực sự chín muồi để có thể bổ sung, sửa đổi ngay tại Đại hội này.

Qua tổng hợp các báo cáo của các tổ chức đảng và kết quả kiểm tra thi hành Điều lệ Đảng khoá XI cho thấy : Đa số các đề xuất, kiến nghị bổ sung, sửa đổi tập trung vào các quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng của Trung ương.

Với lý do đó, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cho giữ Điều lệ Đảng hiện hành (không bổ sung, sửa đổi) những vấn đề vướng mắc được các cấp uỷ, tổ chức đảng đề xuất bổ sung, sửa đổi, đề nghị Đại hội giao Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XII nghiên cứu, điều chỉnh bằng quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XII, không nhất thiết phải quy định trong Điều lệ Đảng.

*

*      *

Trên đây là toàn bộ nội dung của Báo cáo tổng kết thi hành Điều lệ Đảng khoá XI và đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng khoá XI (nếu có) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương khoá XI xin báo cáo Đại hội xem xét, quyết định.

 

Tin tức khác

Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam

Đại hội XII của Đảng có ý nghĩa rất trọng đại, định hướng, cổ vũ và động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta "Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng

Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020

Trước Đại hội Đảng lần thứ XI, hầu hết các nước trên thế giới thực hiện chính sách hỗ trợ tăng trưởng nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Nhiều dự báo cho rằng, khủng hoảng có thể sớm kết thúc và triển vọng kinh tế thế giới sẽ phục hồi sau năm 2010

Báo cáo tiếp thu, giải trình của Đoàn Chủ tịch Đại hội về ý kiến thảo luận của các Đại biểu đối với các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Chiều ngày 21, ngày 22 và sáng ngày 23-01-2016, Đại hội thảo luận về các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Có 686 ý kiến phát biểu tại đoàn và 34 tham luận tại Hội trường.