Trong giai đoạn 5 năm 2021-2025, tỉnh Khánh Hòa đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ cho giai đoạn 2026-2030.
Thành tựu giai đoạn 2021-2025
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hàng năm đạt 8,2%/năm
Trong 5 năm từ 2021-2025, tỉnh Khánh Hòa đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hàng năm của tỉnh ước 8,2%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, trong đó khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ tăng cao, chiếm 82,47%; tỷ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản giảm còn 9,19%. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đến năm 2025 ước đạt 2,2 tỷ USD.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 05 năm 2021-2025 ước đạt trên 375 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm ước đạt 13,7%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2021-2025 ước đạt 7,3%/năm. Số hộ nghèo đến năm 2025 ước giảm khoảng 77% so với năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo còn 0,85%;
Hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông được đầu tư đảm bảo tính kết nối, đồng bộ và hiện đại; thu hút đầu tư ngoài ngân sách được tăng cường, nhất là thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, năng lượng sạch, cảng biển, khu đô thị-du lịch, nghỉ dưỡng cao cấp,... gắn với phát triển 03 vùng động lực, gồm Khu vực vịnh Vân Phong, thành phố Nha Trang, khu vực vịnh Cam Ranh.
Cùng với đó, tỉnh Ninh Thuận đã hoàn thành khá tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội, trong đó có 15/18 chỉ tiêu đạt và vượt so với nghị quyết đề ra: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp; GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 113,7 triệu đồng/người; tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 ước đạt 118,7 nghìn tỷ đồng; tỷ lệ nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 bình quân hàng năm giảm 1,51%; đến năm 2025 còn khoảng 1,01%.
Ngành công nghiệp giữ động lực chính cho tăng trưởng kinh tế
Ngành công nghiệp giữ động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, từng bước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; hạ tầng Khu kinh tế Vân Phong, các Khu, Cụm công nghiệp được đầu tư, tăng cường thu hút các nhà đầu tư thứ cấp để tăng tỷ lệ lấp đầy.
Các dự án công nghiệp quy mô lớn được đẩy nhanh tiến độ thực hiện hoàn thành mang lại đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế, tại tỉnh Khánh Hòa có Nhà máy Nhiệt điện BOT Vân Phong 1 đã đi vào vận hành với công suất 1.320MW và các nhà máy sản xuất các mặt hàng có lợi thế của tỉnh như: thủy sản, yến sào, vật liệu xây dựng, dệt may,…; tỉnh Ninh Thuận tiếp tục phát huy, khẳng định vai trò là trung tâm năng lượng tái tạo quốc gia với 57 dự án điện với công suất 3.750MW, chiếm 18% tổng công suất toàn quốc, đang triển khai xây dựng Đề án thành lập Trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng tại Ninh Thuận và Dự án nhà máy điện hạt nhân theo chủ trương của Trung ương.
Triển khai mô hình thí điểm nuôi biển công nghệ cao tại tỉnh Khánh Hòa và tập trung sản xuất tôm giống chất lượng cao tại tỉnh Ninh Thuận, chiếm 36% thị phần cả nước. Dịch vụ hậu cần nghề cá, cảng biển, vận tải biển - hàng không được đầu tư với cơ sở hạ tầng từng bước được nâng cấp, mở rộng như: Bến cảng tổng hợp Bắc Vân Phong và Nam Vân Phong; Cảng biển tổng hợp Cà Ná; Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh.
Hạ tầng kinh tế-xã hội được đầu tư đảm bảo tính kết nối, đồng bộ và hiện đại, nhất là các tuyến đường cao tốc được đầu tư hoàn thành, đưa vào sử dụng như: Cao tốc Nha Trang-Cam Lâm và Cam Lâm-Vĩnh Hảo, Cao tốc Vân Phong - Nha Trang và nhiều tuyến giao thông trọng điểm khác đang được triển khai như Cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột giai đoạn 1 và các tuyến đường ven biển, đường liên vùng khác… góp phần tăng khả năng kết nối các vùng động lực, phát triển logistics và kinh tế biển.
Hạ tầng thủy lợi được đầu tư theo hướng thông minh, hiện đại, đa mục tiêu, giải quyết cơ bản tình trạng hạn hán, thiếu nước trên địa bàn tỉnh; theo đó tại tỉnh Khánh Hòa đã đầu tư hoàn thành các dự án Hồ chứa nước Am Chúa, Sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8),..., đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án Sửa chữa, nâng cấp hồ Đá Bàn; Hồ chứa nước Sông Cạn; Hồ chứa nước Sông Bún,...; tỉnh Ninh Thuận đã đầu tư hoàn thành Hồ chứa nước Sông Than, đưa vào hoạt động Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ (219 triệu m3), hiện đại nhất cả nước, đã giải quyết cơ bản tình trạng hạn hán, thiếu nước trên địa bàn tỉnh. Hạ tầng đô thị, cấp thoát nước, môi trường đã góp phần thay đổi bộ mặt, nâng cao chất lượng đô thị; hạ tầng truyền tải điện được đầu tư nâng cấp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
Hạ tầng thông tin và truyền thông, hạ tầng số được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại để thúc đẩy chuyển đổi số. Nhiều công trình hạ tầng cho giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế và các thiết chế văn hóa, thể thao được chú trọng đầu tư. Hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn.
Đẩy mạnh khoa học công nghệ và môi trường
Khoa học-công nghệ gắn với chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhiều định hướng, chủ trương, chính sách, dự án, sự kiện nổi bật về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được tập trung chỉ đạo và triển khai; trong đó tập trung vào lĩnh vực Hải dương học, công nghệ đại dương, công nghệ sản xuất giống thủy sản, công nghệ nuôi trồng và chế biến thủy sản,… Tăng cường hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ mới, khuyến khích các đơn vị mạnh dạn đầu tư, tạo ra các sản phẩm có khả năng cạnh tranh, hướng đến xuất khẩu và mang lại giá trị kinh tế cao.
Hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo được đẩy mạnh thực hiện, như hình thành các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, thành lập Công viên phần mềm quân đội, Trung tâm hỗ trợ sinh viên và khởi nghiệp Đại học Nha Trang,… góp phần hỗ trợ khởi nghiệp, ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đã triển khai xây dựng Đề án Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại tỉnh Khánh Hòa.
Hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên, nhất là tài nguyên đất đai, khoáng sản, rừng, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu được tăng cường chỉ đạo; thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Phát triển văn hóa và công trình văn hóa
Nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền và Nhân dân hai tỉnh về phát triển văn hóa, con người trong phát triển kinh tế-xã hội được nâng lên. Môi trường văn hóa được chú trọng xây dựng từ nhà trường, gia đình đến cộng đồng xã hội. Tập trung đầu tư và hoàn thành một số công trình văn hóa quan trọng. Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa đạt kết quả tích cực, nhiều di sản được tôn vinh. Tổ chức thành công nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội tầm cỡ quốc gia, khu vực phục vụ tốt đời sống văn hóa, tinh thần của người dân và lan tỏa hình ảnh trong nước và khu vực.
An sinh, phúc lợi xã hội đạt nhiều kết quả nổi bật, huy động nguồn lực lớn nhất từ trước đến nay cho an sinh xã hội, các chính sách giải quyết việc làm, tạo thêm việc làm mới cho người lao động được thực hiện thường xuyên. Công tác giảm nghèo được chú trọng, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển.
Quan tâm đổi mới căn bản về lĩnh vực giáo dục đào tạo. Chuyển hướng tập trung chi đầu tư cho giáo dục đào tạo và dạy nghề chính là đầu tư cho phát triển. Bố trí hợp lý nguồn lực, ban hành các cơ chế, chính sách nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
Nỗ lực tăng trưởng giai đoạn 2026-2030, hướng tới trung tâm năng lượng tái tạo quốc gia
Chỉ tiêu trong giai đoạn mới
- Về kinh tế (9 chỉ tiêu): Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân hàng năm đạt 11 - 12%. GRDP bình quân đầu người hàng năm tăng 14%, đến năm 2030 đạt 220 triệu đồng. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu GRDP theo ngành kinh tế đạt 90% trở lên. Tổng thu ngân sách nhà nước tăng bình quân hàng năm 12%.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1.050 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 20%, gấp 2,1 lần so với giai đoạn 2021-2025. Tốc độ tăng năng suất lao động (giá so sánh) bình quân hàng năm đạt 11%. Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 55%. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP năm 2030 đạt 30%. Bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
- Về văn hóa-xã hội (có 9 chỉ tiêu): Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm 0,5 - 1% theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030. Số trường công lập đạt chuẩn quốc gia ở 4 cấp học (mầm non, tiểu học, THCS và THPT) đến năm 2030 đạt 72%. Đến năm 2030, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 90%; trong đó tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 45%. Tỷ lệ thất nghiệp hàng năm dưới 3%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 3,5%. Đến năm 2030, toàn tỉnh có 40 giường bệnh và 14 bác sỹ trên 10.000 dân.
Đến năm 2030, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi đạt dưới 8%. Đến năm 2030, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 98%, tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt trên 53%. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực đô thị đến năm 2030 đạt 90%. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2030 đạt 70%.
- Về môi trường (có 4 chỉ tiêu): Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2030 đạt 47%. Đến năm 2030, tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 100%, tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 100%, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đạt 90,2%. Tỷ lệ khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đến năm 2030 đạt 100%. Đến năm 2030, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đạt 100%, tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt 100%.
Phát triển kinh tế biển
Phát triển toàn diện kinh tế biển gắn với nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên biển và kiểm soát tài nguyên biển; đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm theo hướng phát triển: (i) Dịch vụ, du lịch biển chất lượng cao; (ii) Khu công nghiệp, khu kinh tế biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới; (iii) Nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, nhất là nuôi biển công nghệ cao, thân thiện với môi trường; sản xuất tôm giống chất lượng cao của khu vực; (iv) Dịch vụ hậu cần nghề cá, cảng biển, vận tải biển - hàng không; (v) Kinh tế biển - đảo; (vi) Phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương.
Phát triển công nghiệp theo hướng bền vững
Duy trì tốc độ tăng trưởng công nghiệp theo hướng bền vững và là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách. Phát triển ngành công nghiệp hài hòa cả về chiều rộng và chiều sâu, đẩy mạnh tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô sản xuất đối với các mặt hàng chủ lực của tỉnh như đóng tàu, thủy sản, yến sào, đường, may mặc,…
Tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao; công nghiệp năng lượng, công nghiệp điện tử, viễn thông, bán dẫn, trong đó phát triển Khánh Hòa trở thành trung tâm sản xuất bán dẫn, công nghiệp trí tuệ nhân tạo AI, trung tâm dữ liệu quốc gia khu vực và thế giới. Nâng cao hiệu quả phát triển các khu kinh tế, nhất là Khu Kinh tế Vân Phong; thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam của tỉnh khi đủ điều kiện theo quy định; thu hút đầu tư hạ tầng các Khu, Cụm công nghiệp theo quy hoạch được duyệt, nhất là Khu công nghiệp tại Ninh Diêm, Ninh Xuân, Du Long, Phước Nam, Cà Ná,...
Trở thành trung tâm năng lượng tái tạo Quốc gia
Phát triển Khánh Hòa mới trở thành trung tâm năng lượng tái tạo Quốc gia, thúc đẩy phát triển công nghệ lưu trữ điện, trong đó tập trung phát triển điện gió ven biển và ngoài khơi, điện mặt trời, điện khí LNG, Năng lượng Hydrogen xanh, điện hạt nhân, thủy điện tích năng theo Quy hoạch được duyệt.
Tập trung đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng truyền tải, kết nối lưới điện quốc gia với hệ thống trạm 500kV, 220kV. Đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị hạ tầng, để trung ương triển khai thực hiện dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, phấn đấu hoàn thành và đưa vào vận hành trong theo đúng kế hoạch của trung ương.
Phát triển dịch vụ logistics thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Chú trọng phát triển các cảng tổng hợp, chuyên dùng cho tàu biển trọng tải lớn; các dịch vụ logistics chất lượng cao có khả năng kết nối với các trung tâm logistics trong và ngoài nước.
Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại
Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, tập trung quy mô lớn, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ cao, công nghệ số, gắn với chế biến sâu và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, nhằm nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp. Gắn kết chặt chẽ với xây dựng nông thôn mới và chủ động hội nhập quốc tế.
Tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp, bao gồm nông, lâm nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản, theo hướng phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu, gắn với công nghiệp chế biến hiện đại, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người dân.
Phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc thù, sản phẩm chủ lực quốc gia và cấp tỉnh, đẩy mạnh chương trình OCOP; mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu nông sản theo hướng bền vững, có thương hiệu, chất lượng, an toàn thực phẩm và đảm bảo tính minh bạch về truy xuất nguồn gốc.
Phát triển logistics thành động lực tăng trưởng mới
Với vị trí chiến lược trên trục giao thương Bắc-Nam và là cửa ngõ ra biển của khu vực Tây Nguyên, Khánh Hòa đang tập trung triển khai kế hoạch phát triển dịch vụ logistics theo hướng hiện đại, đưa lĩnh vực này trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong giai đoạn tới.
Theo Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn, Khánh Hòa đặt mục tiêu đưa logistics trở thành ngành dịch vụ quan trọng, hỗ trợ hiệu quả hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, thương mại và du lịch.
Với hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là cảng biển nước sâu và các tuyến cao tốc kết nối liên vùng, Khánh Hòa được đánh giá có nhiều điều kiện để trở thành điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Giai đoạn 2026-2035, Khánh Hòa đặt mục tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt khoảng 5%- 7%; tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 70%-80%. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành logistics trên địa bàn đạt khoảng 12%-15%/năm.
Tỉnh Khánh Hòa hình thành từ 4 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại nhằm kết nối và phát triển chuỗi cung ứng trong khu vực gồm: Trung tâm logistics Vân Phong tại Khu kinh tế Vân Phong; Trung tâm logistics tại xã Nam Cam Ranh, gắn với khu công nghiệp Nam Cam Ranh; Trung tâm logistics Cà Ná tại khu vực Cà Ná và Trung tâm logistics Ninh Chử.
Đến năm 2050, tỉnh phấn đấu tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong GRDP đạt khoảng 7%-9%; tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 80%-90%; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10%-12%/năm; 70% lao động ngành logistics được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, trong đó 30% có trình độ đại học trở lên.
Khánh Hòa thúc đẩy liên kết vùng thông qua - phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, cảng biển, kho bãi và trung tâm logistics; nâng cao hiệu quả vận tải trên các tuyến cao tốc Nha Trang-Cam Lâm, Cam Lâm-Vĩnh Hảo, Vân Phong- Nha Trang, Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột, góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa đến cảng biển và cảng hàng không quốc tế. Ngoài đường bộ, tỉnh có tuyến đường sắt Bắc-Nam và hệ thống 21 cảng biển, 54 bến thủy nội địa; trong đó có cảng Cam Ranh, Vân Phong, Cà Ná tạo nền tảng phát triển vận tải đa phương thức./.