Nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, giữa 2 sông Tiền và sông Hậu cùng với 130km đường bờ biển, tiếp giáp trực tiếp với Biển Đông, Vĩnh Long là địa phương nhiều cơ hội phát triển kinh tế về đường thủy và hàng hải.
Ngày 1/7/2025, một dấu mốc lịch sử đã mở ra cho vùng đất trung hạ lưu sông Cửu Long: ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long chính thức hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Long mới.
Quyết định chiến lược này không chỉ là sắp xếp địa giới hành chính mà còn khởi đầu cho một mô hình phát triển mới-hiện đại hơn về tư duy, hiệu quả hơn về tổ chức, sâu sắc hơn về liên kết vùng và mạnh mẽ hơn về năng lực cạnh tranh.
Thành tựu đạt được của ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long trước hợp nhất có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề để tỉnh Vĩnh Long mới bứt phá, vươn lên thực hiện hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, tỉnh Vĩnh Long đạt nhiều thành tựu nổi bật, hoàn thành và vượt phần lớn các chỉ tiêu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.
Nổi bật là việc đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh.
Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2020-2025 đạt bình quân 5,58%/năm; quy mô GRDP năm 2025 ước đạt 288.858 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 85,31 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỉ trọng nông, lâm nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Công tác cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được chú trọng.
Thương mại-dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 885.810 tỷ đồng, du lịch giai đoạn 2021-2025 đón gần 28,3 triệu lượt khách, doanh thu trên 23.600 tỷ đồng.
Kinh tế biển tiếp tục được xác định là một trong những động lực trọng yếu để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững cho vùng. Tỉnh tập trung chỉ đạo phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Công nghiệp và hạ tầng công nghiệp được tập trung đầu tư phát triển, từng bước hoàn thiện, phát huy hiệu quả. Các khu, cụm công nghiệp và khu kinh tế hoạt động ổn định, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung. Ngành công nghiệp được cơ cấu lại theo hướng tăng tỷ trọng chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao.
Nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu. Nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ được triển khai; sản phẩm OCOP ngày càng đa dạng.
Tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực kinh tế tư nhân đạt khoảng 10- 11%/năm, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP và tạo việc làm.
Đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới.
Công tác quy hoạch được triển khai tích cực, bảo đảm chất lượng, đồng bộ, liên kết, xác định rõ các không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới. Tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh đến năm 2025 đạt 35%. Trà Vinh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng tỉnh nông thôn mới; Vĩnh Long và Bến Tre hoàn thành các chỉ tiêu về nông thôn mới, đô thị văn minh theo Nghị quyết Đại hội.
Giao thông vận tải biển được đầu tư làm thay đổi địa kinh tế của vùng, đặc biệt là Cảng Định An, Luồng cho tàu có trọng tải lớn vào sông Hậu. Hạ tầng logistics ven biển đã được chú trọng đầu tư, từng bước hình thành mạng lưới kết nối giao thương vùng - liên vùng, giảm chi phí vận chuyển và tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa.
Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có nhiều tiến bộ, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế-xã hội
Nhiều mô hình sản xuất tiên tiến, quy trình lai tạo giống, cấy mô, công cụ cải tiến được áp dụng hiệu quả Chuyển đổi số được chú trọng, hạ tầng số từng bước hoàn thiện.
Các địa phương trong tỉnh chủ động khai thác tiềm năng gió, mặt trời, thủy sản và dịch vụ cảng biển. Vĩnh Long hiện vận hành thương mại công suất 5.416 MW điện, trong đó có 918 MW từ năng lượng tái tạo, sản lượng gần 30 tỉ kWh/năm, tương đương giá trị 24.300 tỷ đồng.
Trung ương đã quy hoạch bổ sung thêm 2.900 MW điện gió và 150 MW điện mặt trời đến năm 2030; đồng thời khảo sát tiềm năng phát triển 1.000 MW điện gió ngoài khơi, hứa hẹn hình thành trung tâm năng lượng tái tạo lớn trong tương lai.
Lấy con người làm trung tâm phát triển
Văn hóa, văn học-nghệ thuật, thể dục thể thao có nhiều chuyển biến tích cực. Chủ trương, chính sách về xây dựng văn hóa, con người được cụ thể hóa và triển khai đồng bộ. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, phát triển đa dạng, chất lượng từng bước được nâng cao. Thể thao quần chúng phát triển mạnh.
Phát triển giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được đầu tư, nâng cấp theo hướng hiện đại và chuẩn quốc gia. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cơ bản đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.
Công tác đào tạo nghề đạt kết quả khá; tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt trên 16,8%. Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đạt kết quả tích cực. Chính sách giảm nghèo đa chiều được triển khai hiệu quả, góp phần cải thiện đời sống người dân. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được thực hiện tốt; tỷ lệ nghèo đa chiều còn 2,3%.
Các chính sách dân tộc, tôn giáo được triển khai nghiêm túc, đồng bộ, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Các chương trình, dự án vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tổ chức thực hiện hiệu quả. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Khmer được cải thiện rõ nét.
Chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế xanh, lấy con người làm trung tâm, động lực phát triển.
Trong nhiệm kỳ 2025-2030, tỉnh đề ra 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 khâu đột phá chiến lược, trong đó xác định 4 trụ cột phát triển, gồm: kinh tế biển và năng lượng tái tạo; nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao; hạ tầng kết nối và dịch vụ logistics; di sản văn hóa và nguồn nhân lực.
Qua đó, khẳng định, Vĩnh Long sẽ hội tụ đầy đủ các yếu tố và quyết tâm để trở thành trung tâm kinh tế, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và dịch vụ biển của toàn vùng, giữ vai trò cầu nối giữa các tiểu vùng nội địa với không gian biển và chuỗi cung ứng quốc tế; là tiền đề để phát triển một vùng kinh tế sinh thái đô thị ven sông, ven biển đặc thù, thích ứng với biến đổi khí hậu, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa đa dân tộc góp cùng xu thế chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững trong khu vực và cả nước, bước vào kỷ nguyên mới Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
3 khâu đột phá chiến lược
Tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương: Triển khai thực hiện hiệu quả các Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị, trong đó tập trung cụ thể hoá thực hiện nhiệm vụ, giải pháp đột phá Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân và khởi nghiệp làm động lực cho sự phát triển.
Ưu tiên phát triển các lĩnh vực mũi nhọn như nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, công nghiệp chế biến, năng lượng sạch, kinh tế số, du lịch sinh thái - văn hoá truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Khmer, du lịch biển theo hướng thông minh, xanh.
Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ: Hiện nay, kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn của tỉnh.
Trong nhiệm kỳ này, tỉnh ưu tiên xây dựng hệ thống giao thông chiến lược, các trục giao thông huyết mạch, hạ tầng cảng biển, cảng sông, logistics, gắn với hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin, đảm bảo kết nối liên vùng và nội tỉnh, liên thông hiệu quả với các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ.
Tập trung phát triển hạ tầng khu - cụm công nghiệp, khu kinh tế, từng bước hình thành các vùng động lực kinh tế biển, hướng đến hình thành trung tâm sản xuất năng lượng tái tạo của cả nước.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ đức, đủ tài, uy tín, tư duy đột phá, sáng tạo, tầm nhìn chiến lược, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của Nhân dân.
Có cơ chế phát hiện, thu hút, trọng dụng, giữ chân nhân tài; khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát huy vai trò đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân trong phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong nhiệm kỳ tới
Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
Tiếp tục đổi mới hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy.
Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng dựa chủ yếu vào khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chuyển mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả, giá trị kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sinh thái, xanh, tuần hoàn và bền vững.
Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường. Tập trung phát triển các ngành có lợi thế.
Cơ cấu lại ngành dịch vụ theo hướng hiện đại, chất lượng cao, có giá trị gia tăng, dựa trên nền tảng công nghệ số, phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế.
Huy động và khai thác mạnh mẽ các nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để đầu tư phát triển. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2025-2030 trên 480 nghìn tỷ đồng. Tăng cường quản lý tài chính - ngân sách, thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ, tín dụng, tiết kiệm chi.
Tập trung điều chỉnh và triển khai quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050. Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, liên thông vùng. Ưu tiên đầu tư công và vốn vay cho trung hạn giai đoạn 2026-2030 để triển khai các công trình trọng điểm.
Chú trọng đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu kinh tế Định An, các khu, cụm công nghiệp, hệ thống giao thông nội bộ và giao thông kết nối bên ngoài khu công nghiệp, hệ thống cấp điện, cấp thoát nước và bảo vệ môi trường.
Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng hiện đại, xanh, thông minh và bền vững. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới toàn diện, bền vững. Phấn đấu tỷ lệ đô thị hoá đến năm 2030 đạt 35% trở lên.
Thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 gắn với xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với đặc điểm văn hóa - con người Vĩnh Long.
Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Quan tâm bố trí nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ để đẩy nhanh chuyển đổi số, phổ cập và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo.
Nghiên cứu các chính sách phát hiện, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng nhân tài, tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của tỉnh trong thời kỳ mới.
Quản lý phát triển xã hội, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội. Nâng cao chất lượng dân số cả về thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ. Chăm sóc tốt sức khỏe bà mẹ và trẻ em; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên. Quan tâm vấn đề lao động, việc làm, thực hiện các chính sách xã hội và an sinh xã hội.
Tập trung triển khai hiệu quả các chương trình, đề án trọng điểm về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế xã hội.
Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Tăng cường đầu tư hệ thống quan trắc, cảnh báo ô nhiễm môi trường.
Phát triển hệ thống xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng hiện đại, tuần hoàn, thân thiện môi trường. Quản lý chặt chẽ tài nguyên đất, lập quy hoạch sử dụng đất làm cơ sở sử dụng hiệu quả, bền vững.
Xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên nền tảng “thế trận lòng dân.”
Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại Đảng, đối ngoại nhân dân phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các địa phương nước ngoài có tiềm năng, thế mạnh, nhất là các vùng có điều kiện tương đồng với tỉnh Vĩnh Long. Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội và sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền, chất lượng cải cách tư pháp; quan tâm tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên nền tảng “thế trận lòng dân.”
Với những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ qua cùng định hướng, giải pháp đột phá cho giai đoạn mới, Vĩnh Long đang khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ để bứt phá, khát vọng vươn lên xây dựng tỉnh Vĩnh Long phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới, góp phần vào sự thịnh vượng chung của đất nước./.